Số 341 (2026)

					Xem Số 341 (2026)
Đã Xuất bản: 20-05-2026

NGHIÊN CỨU – TRAO ĐỔI

  • ƯỚC TÍNH ĐỘ BIẾN DẠNG CỦA THÁP TUỐC BIN GIÓ DỰA TRÊN MÁY QUÉT LASER TRÊN MẶT ĐẤT

    DOI: https://doi.org/10.71254/byx1f655
    Abstract : 0 PDF: 0
    Trần Trọng Tấn, Đỗ Văn Hiến
    5–11

    Trong bối cảnh nhu cầu năng lượng tái tạo ngày càng gia tăng, các tuabin gió hiện đại có xu hướng phát triển với kích thước lớn hơn, dẫn đến sự gia tăng đáng kể về tải trọng động và độ phức tạp trong ứng xử kết cấu của tháp. Do đó, việc ước tính chính xác độ biến dạng của tháp tuabin gió đóng vai trò quan trọng trong hệ thống quan trắc kết cấu công trình, đánh giá hiệu năng vận hành và kiểm chứng các mô hình số. Bài báo này đề xuất một phương pháp đo không tiếp xúc nhằm xác định độ biến dạng của tháp tuabin gió dựa trên công nghệ quét laser mặt đất (Terrestrial Laser Scanning – TLS). Phương pháp cho phép đồng thời xác định chuyển vị theo phương trục và phương ngang chỉ từ một vài vị trí quan sát, không yêu cầu gắn thiết bị hoặc sửa đổi kết cấu. Chiến lược quét được xây dựng để thu nhận các mặt cắt ngang của tháp, từ đó độ biến dạng được xác định thông qua kỹ thuật xấp xỉ đường cong. Các thí nghiệm thực địa được thực hiện trên tuabin gió đang vận hành nhằm đánh giá tính khả thi và độ chính xác của phương pháp. Kết quả cho thấy phương pháp TLS có khả năng đo đạc đáng tin cậy ở khoảng cách lớn (trên 128 m) và phù hợp cho giám sát từ xa. Phương pháp đề xuất mở ra tiềm năng ứng dụng hiệu quả trong các hệ thống giám sát kết cấu và tích hợp với mô hình số hiện đại.

  • UỚC LƯỢNG NHIỄU BẰNG MẠNG NƠ-RON NHẰM NÂNG CAO HIỆU NĂNG BỘ ĐIỀU KHIỂN PID CHO CƠ CẤU BỐN KHÂU BẢN LỀ

    DOI: https://doi.org/10.71254/byx1f655
    Abstract : 0 PDF: 0
    Trịnh Tuấn Dương
    12–18

    Bài báo này đề xuất một phương pháp điều khiển kết hợp giữa PID và mạng nơ-ron nhằm cải thiện khả năng bám quỹ đạo của cơ cấu bốn khâu trong điều kiện có nhiễu. Trong các hệ cơ khí thực tế, các yếu tố bất định như ma sát khớp, thay đổi tải và nhiễu từ môi trường có thể làm suy giảm đáng kể độ chính xác điều khiển. Để khắc phục vấn đề này, một mạng nơ-ron được sử dụng để ước lượng nhiễu dựa trên trạng thái hệ và tín hiệu điều khiển, sau đó được dùng để bù vào tín hiệu điều khiển PID theo thời gian thực. Một mô hình động lực học rút gọn của cơ cấu bốn khâu được sử dụng để đánh giá phương pháp đề xuất. Nhiễu được mô hình hóa bao gồm cả thành phần biến thiên theo thời gian và thành phần ma sát phụ thuộc vận tốc, giúp phản ánh tốt hơn các đặc tính của hệ cơ khí. Kết quả mô phỏng trong nhiều trường hợp nhiễu cho thấy phương pháp PID kết hợp mạng nơ-ron giúp giảm đáng kể sai số bám quỹ đạo so với PID truyền thống. Điều này khẳng định hiệu quả của phương pháp bù nhiễu bằng mạng nơ-ron trong việc nâng cao độ bền vững và hiệu năng điều khiển.

  • THIẾT KẾ VÀ PHÂN TÍCH KẾT CẤU THÉP BỘ KẸP GẮP GỖ CỦA MÁY ĐÀO MỘT GẦU

    DOI: https://doi.org/10.71254/byx1f655
    Abstract : 0 PDF: 0
    Nguyễn Thùy Chi
    19–24

    Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu thiết kế và phân tích kết cấu thép của bộ kẹp gắp gỗ lắp trên máy đào một gầu truyền động thủy lực. Trên cơ sở phân tích cấu tạo và nguyên lý làm việc của bộ kẹp, tác giả xây dựng mô hình tính toán lực kẹp, xác định tải trọng làm việc và tiến hành thiết kế kết cấu cơ khí của bộ kẹp. Mô hình 3D được xây dựng trên phần mềm SolidWorks và phân tích phần tử hữu hạn (FEA) được thực hiện bằng SolidWorks Simulation nhằm đánh giá ứng suất, biến dạng và hệ số an toàn của kết cấu. Kết quả cho thấy phương án thiết kế đảm bảo khả năng làm việc đối với điều kiện kẹp gỗ, đồng thời chỉ ra các vùng nguy hiểm cần gia cường khi làm việc với tải trọng lớn hơn.

  • NGHIÊN CỨU TỐI ƯU HÓA KẾT CẤU THÙNG KÍN DẠNG SÓNG CONTAINER TRÊN XE TẢI

    DOI: https://doi.org/10.71254/byx1f655
    Abstract : 0 PDF: 0
    Nguyễn Quang Cường
    25–30

    Ngành vận tải đường bộ đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh tế, trong đó xe tải là phương tiện chủ lực. Việc giảm khối lượng bản thân thùng xe nhằm tăng tải trọng hàng hóa và nâng cao hiệu quả khai thác là một yêu cầu cấp thiết trong thiết kế hiện nay. Mỗi kilogram khối lượng kết cấu tăng thêm không chỉ làm giảm khả năng chuyên chở mà còn làm gia tăng tiêu hao nhiên liệu và chi phí vận hành. Bài báo này trình bày nghiên cứu tối ưu hóa kết cấu thùng kín dạng sóng container trên xe tải thông qua phương pháp phần tử hữu hạn (FEM) sử dụng phần mềm Simsolid. Các tham số thiết kế chính bao gồm chiều dày tôn, bước sóng và số lượng thanh gia cường, ke tăng cứng được khảo sát và đánh giá trong các bài toán tối ưu.

  • NGHIÊN CỨU MÔ PHỎNG VÀ TÍNH TOÁN KẾT CẤU THÉP CÁC ĐOẠN ỐNG LỒNG CỦA CẦN TRỤC BÁNH LỐP TRUYỀN ĐỘNG THỦY LỰC

    DOI: https://doi.org/10.71254/byx1f655
    Abstract : 0 PDF: 0
    Phạm Anh Tuấn, Đoàn Văn Tú
    31–36

    Bài báo trình bày nghiên cứu tính toán và mô phỏng kết cấu thép các đoạn ống lồng của cần trục bánh lốp truyền động thủy lực. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phần tử hữu hạn kết hợp phần mềm Autodesk Inventor để đánh giá ứng suất và biến dạng của kết cấu trong các điều kiện làm việc khác nhau. Kết quả cho thấy kết cấu đảm bảo điều kiện bền và độ cứng. Việc xác định được các vùng tập trung ứng suất, vùng biến dạng lớn để biết tình hình chịu lực của từng đoạn ống làm cơ sở tối ưu hóa thiết kế.

  • KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA SỐ LƯỢNG BƯỚC SÓNG ĐẾN TỶ SỐ ĐỘ CỨNG NÉN-UỐN TRONG CẤU TRÚC ZIGZAG PHẲNG

    DOI: https://doi.org/10.71254/byx1f655
    Abstract : 0 PDF: 0
    Hoàng Tùng Lâm, Lã Đức Việt
    37-41

    Bài báo này nghiên cứu ảnh hưởng của số lượng bước sóng đến đặc tính cơ học của cấu trúc zigzag phẳng ứng dụng trong hệ cách ly dao động. Cụ thể, nghiên cứu tập trung vào sự biến thiên của tỷ số giữa độ cứng nén và độ cứng uốn khi thay đổi cấu hình hình học. Mô hình cấu trúc được xây dựng và phân tích bằng phần mềm phần tử hữu hạn mã nguồn mở ElmerFEM, trong đó tấm zigzag được rời rạc hóa bằng các phần tử màng tam giác để đảm bảo tính chính xác trong việc tính toán các thành phần ứng suất và biến dạng. Kết quả khảo sát cho thấy khi tăng số lượng bước sóng, độ cứng nén của cấu trúc giảm nhanh hơn đáng kể so với tốc độ giảm của độ cứng uốn. Sự thay đổi của tỷ số độ cứng theo số bước sóng cung cấp một thông số thiết kế quan trọng, cho phép điều chỉnh linh hoạt tần số tự nhiên của hệ cách ly mà không cần thay đổi vật liệu chế tạo.